Tác phẩm đoạt giải

Học Bác “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm
Lời Tòa soạn: Đại dịch COVID-19 gây ra cuộc khủng hoảng nghiêm trọng trên toàn cầu. Ở Việt Nam, nó là phép thử đối với mỗi cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong hoàn cảnh khó khăn, cam go, bản lĩnh của mỗi cán bộ, đảng viên được bộc lộ rõ nhất trên cương vị được giao. Học Bác “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm…”, mỗi cán bộ, đảng viên đã tiên phong “ra trận” theo những cách khác nhau, phù hợp với cương vị công tác và hoàn cảnh cụ thể, tạo sự lan tỏa sâu rộng. Họ là những người truyền cảm hứng, nhân lên sức mạnh toàn dân, để khẳng định Việt Nam không phải là quốc gia mạnh nhất thế giới nhưng trong cuộc chiến chống COVID-19, Việt Nam đạt nhiều thành tựu và có được nhiều niềm tin ở nhân dân. Tạp chí Xây dựng Đảng xin gửi tới bạn đọc chùm bài dài 3 kỳ của tác giả Diệp Chi về những tập thể điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19.

Bài 1: Nhà khoa học nào cũng có Tổ quốc của mình…

Đó là chia sẻ của Thượng tá, PGS, TS. Hồ Anh Sơn, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Y dược học Quân sự (Học viện Quân y) về động lực để nhóm nghiên cứu của Viện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nghiên cứu, chế tạo bộ Kit xét nghiệm vi-rút SARS-COV-2. Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến nhanh, lan rộng và gây tử vong lớn trên thế giới, nhóm nghiên cứu đã nỗ lực không ngừng nghỉ, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết, nghiên cứu và chế tạo thành công bộ Kit xét nghiệm, gỡ “nút thắt” đầu tiên để đóng góp sớm vào những bước đi chiến lược của quốc gia, giúp Việt Nam trở thành một trong những nước đi đầu trên thế giới kiểm soát tốt dịch bệnh.

Nếu dịch bệnh lan đến, Việt Nam sẽ thế nào?

Khi những thông tin ban đầu về vi-rút Cô-rô-na được chia sẻ, các nhà khoa học mặc áo lính của Viện Nghiên cứu Y dược học Quân sự trăn trở là nếu dịch bệnh lan đến, Việt Nam sẽ thế nào? Nhớ lại thời điểm dịch bệnh mới bùng phát ở TP. Vũ Hán (Trung Quốc), đồng chí Sơn cho biết: Dù chưa có chỉ đạo của cấp trên và vào thời điểm gần Tết Nguyên đán, nhưng với trách nhiệm của các nhà khoa học trước mầm bệnh mới, họ đã chủ động tập trung tìm hiểu về chủng vi-rút mới, nhờ các nhà khoa học nước ngoài, nhất là ở Đức cung cấp thêm thông tin, các cặp mồi để bắt vi-rút, chuỗi dò khóa cũng như một số quy trình để tìm hiểu, phát hiện. Anh khẳng định: Chúng tôi không chỉ là những nhà khoa học mà còn khoác trên vai bộ quân phục của người lính Cụ Hồ. Nếu là nhà nghiên cứu phản ứng trước bệnh dịch mới là thách thức nghiên cứu, với người lính còn là trách nhiệm bảo vệ quốc gia, dân tộc. Dù khi đó Việt Nam chưa có ca nhiễm bệnh nhưng với việc chủ động nghiên cứu tài liệu liên quan đến vi-rút SARS-COV-2, các nhà khoa học của Viện có đủ nhạy cảm nghề nghiệp để nhận thấy sự nghiêm trọng của dịch bệnh. Liên tục theo dõi diễn biến đã giúp anh và đồng nghiệp có thêm nhiều hiểu biết mới về bệnh dịch, yếu tố rất quan trọng để nửa tháng sau họ có thể tự tin đón nhận nhiệm vụ do Bộ Khoa học và Công nghệ giao. Gần cuối tháng 1-2020, nhóm nghiên cứu đã bắt đầu đặt các mẫu di truyền của vi-rút được tổng hợp trong phòng thí nghiệm từ nước ngoài và bắt tay vào nghiên cứu. Đó là những phản xạ tự nhiên khi “làm nghề” và thái độ, trách nhiệm của người lính vì nhân dân phục vụ nên mặc dù chưa có một chỉ thị nào từ cấp trên, nhưng các nhà khoa học đã ở tư thế sẵn sàng nhận nhiệm vụ, sẵn sàng “chiến đấu” khi có mệnh lệnh từ Tổ quốc.

Niềm tin đồng đội

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về sử dụng, đào tạo, rèn luyện cán bộ. Tư tưởng của Người “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” được lãnh đạo Học viện nói chung và Viện Nghiên cứu Y dược học Quân sự nói riêng vận dụng có hiệu quả. Khi TP.Hồ Chí Minh có ca bệnh đầu tiên ở Bệnh viện Chợ Rẫy, không khí trong Viện như bị đốt nóng. Đầu tháng 2, Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định phê duyệt đặt hàng 4 nhiệm vụ cấp quốc gia đột xuất góp phần phòng, chống dịch bệnh, trong đó có đề tài “Nghiên cứu chế tạo bộ sinh phẩm real-time RT-PCR và RT PCR phát hiện vi-rút Cô-rô-na chủng mới” do Học viện Quân y chủ trì, phối hợp với Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á với thời gian gấp rút: 2 tuần có sản phẩm thử nghiệm, 1 tháng có sản phẩm sử dụng. Khó có thể diễn tả được hết cảm xúc khi nhóm nghiên cứu được giao nhiệm vụ đột xuất trong hoàn cảnh đặc biệt. Mặc dù trước đó các nhà khoa học đã luôn ở tư thế sẵn sàng, chủ động tìm hiểu, nghiên cứu trước về chủng vi-rút mới này nhưng khi chính thức có quyết định thành lập nhóm nghiên cứu đã làm thay đổi về thái độ, trách nhiệm của các thành viên tham gia. Chia sẻ về việc nhận nhiệm vụ đặc biệt với áp lực thời gian chưa từng có trong lịch sử nghiên cứu Kit test, Thượng tá, PGS, TS. Hồ Anh Sơn, Chủ nhiệm đề tài cho biết: Trước áp lực về tiến độ, tôi rất lo lắng. Nhưng thôi thúc bởi nhiệm vụ cấp trên, đất nước tin tưởng giao phó, tôi tin vào đội ngũ cán bộ của Viện mà trực tiếp là các thành viên nhóm nghiên cứu. Ngoài những cán bộ “lão làng”, 60% nhóm nghiên cứu là cán bộ nữ, trẻ. Đó là những cán bộ được đào tạo bài bản, có năng lực, say mê, nhiệt huyết với công việc nghiên cứu và quan trọng là có trách nhiệm với công việc, đất nước, nhân dân. Làm việc trong môi trường quân đội với kỷ luật cao, toàn bộ ê-kíp nghiên cứu đề tài đã làm việc như những người lính ra trận, xác định mình đang ở tuyến đầu của cuộc chiến chống “giặc COVID-19”, vì nhân dân phục vụ. Niềm tin cho tôi cơ sở, động lực để cùng đồng nghiệp phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ.

Thông thường, một sản phẩm như Kit test vi-rút phải mất khoảng 2 năm nghiên cứu, trải qua quá trình đấu thầu, thuyết minh đề tài, mua hóa chất, đánh giá, thử nghiệm, nghiệm thu, chuyển giao sản xuất, tối ưu quy trình, đăng ký sản phẩm... Nhưng vì dịch bùng lên quá nhanh, mọi tiền lệ đều bị phá vỡ. Hai tuần phải có sản phẩm để thử nghiệm, 1 tháng phải có sản phẩm đưa vào sử dụng. Đây không phải là việc ghi danh thành tích nghiên cứu khoa học mà trên hết là sức khỏe và tính mạng của nhân dân. Phát hiện sớm ngày nào, giờ nào, an toàn cho nhân dân ngày đó, giờ đó. Áp lực ngày càng tăng bởi diễn biến bệnh ngày càng phức tạp, số ca nhiễm và tử vong trên thế giới tăng lên từng phút, từng giờ nhưng thông tin về loại vi-rút này mờ mịt. Bệnh dịch lan tới Việt Nam mà số lượng Kit test trong cả nước chỉ có mấy chục và phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung nước ngoài. Phòng, chống đại dịch hiệu quả phải có phương tiện nhận diện, phát hiện người nhiễm bệnh nhanh và chuẩn xác nhất. Thời điểm chúng tôi nghiên cứu, một số quốc gia như Mỹ, Anh, Đức, Pháp... đã đưa ra các bộ Kit nhưng chưa thực sự tối ưu, đạt chuẩn. “Sát thủ vô hình” đang gây hoang mang cho mọi người. SARS-COV-2 vẫn còn nhiều bí ẩn. Làm thế nào để giải mã được SARS-COV-2 chỉ trong vòng 2 tuần?

Giải mã SARS-COV-2

Dù đã thực hiện không ít đề tài lớn nhỏ trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học, nhưng đề tài chế tạo bộ Kit chẩn đoán vi-rút SARS-COV-2 lần này mang đến cho các thành viên nhóm nghiên cứu những trải nghiệm vô vùng đặc biệt. Thời gian quá gấp rút, anh chị em trong nhóm nghiên cứu phải tăng hiệu suất làm việc gấp 3 lần, căng mình “chiến đấu” bất kể ngày đêm. Mỗi ngày, cách 2-3h, Thủ trưởng Học viện Quân y và lãnh đạo các bộ lại hỏi duy nhất một câu: “Vài tiếng vừa qua các anh đã làm được gì?”. Nguyên nhân nào để các thành viên nhóm nghiên cứu có thể “nhập cuộc” nhanh với nhiệm vụ đặc biệt đột xuất này? Thượng tá Hồ Anh Sơn khẳng định: Đây là kết quả của một quá trình rèn luyện. Từ những ngày đầu nhập ngũ, đội ngũ cán bộ ở Viện luôn được tạo điều kiện học hành, nghiên cứu, được bồi đắp về tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà khoa học mặc áo lính, của người đảng viên. Những lúc cam go, bản lĩnh của người cán bộ chiến sỹ càng cần được thể hiện. Chính vì thế, khi đất nước cần, mỗi người đã hành động như lẽ phải thế, thực hiện nhiệm vụ một cách tự nhiên và cảm thấy tự hào vì được cống hiến. Là cán bộ chỉ huy, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, tôi luôn xác định mình phải là người kết nối, tạo cảm hứng, động lực cho cán bộ, đảng viên; tổ chức đội, nhóm, phân công; chủ động dự báo và chịu trách nhiệm. Môi trường làm việc là yếu tố quan trọng, quân đội sử dụng quân lệnh nhưng cũng có lúc “cứng”, lúc “mềm”, đặc biệt với những người làm nghề nghiên cứu, quan trọng là tạo được động lực, cảm hứng say mê làm việc. Mỗi cán bộ nghiên cứu thường thời gian ở Viện nhiều hơn ở nhà, nên đây là ngôi nhà chung mà mỗi người đều phải có trách nhiệm. Bài học về phong cách, thái độ, trách nhiệm với công việc, với đồng nghiệp của Bác, nhất là trong những hoàn cảnh đặc biệt đã thấm vào mỗi cán bộ, đảng viên trong Viện một cách tự nhiên như thế.

Ngoài áp lực về tiến độ, đi kèm quá trình nghiên cứu là những rủi ro, thách thức. Làm thí nghiệm với các mẫu nghiên cứu, trong đó có mẫu vi-rút SARS-COV-2 tiềm ẩn rất nhiều hiểm nguy, nếu không có tinh thần hy sinh, ý chí “cái gì có lợi cho dân phải hết sức làm”, nhiều người có thể sẽ sợ hãi, thoái thác nhiệm vụ. Chưa bao giờ nhóm nghiên cứu đối diện với nhiệm vụ nào áp lực như vậy, thời gian được giao rất ngắn, họ chưa biết và chưa thể hình dung đến những khó khăn nào khác. Nhưng chưa bao giờ dù chỉ trong suy nghĩ, các thành viên nhóm nghiên cứu nghĩ đến lui bước hay từ bỏ. Thay vào đó, để giảm áp lực và quên đi thời gian, cách xử lý theo phương châm: Vùi đầu vào công việc, nghiên cứu, thử nghiệm, “cùng ăn, cùng ngủ, cùng sinh hoạt với vi-rút thì mới có thể hiểu về nó và chế ngự nó”, quên hết thời gian, lo lắng, áp lực; khi có kết quả, mệt mỏi sẽ tan biến. Để đạt được tiến độ, nhóm nghiên cứu đã làm việc bất kể thứ Bảy hay Chủ nhật, đêm hay ngày. Các nhà khoa học gần như “cấm trại”, “cố thủ” tại phòng, bữa ăn cũng tranh thủ để có thời gian nghiên cứu. Phòng làm việc của nhóm hôm nào cũng sáng đèn đến 2-3 giờ sáng. Nhiều đêm, họ làm việc đến 4-5 giờ sáng để hoàn thành chẩn đoán các mẫu bệnh phẩm và kịp thông báo kết quả cho bệnh viện, có ngày làm việc tới 20-21 giờ. Không chỉ thời gian, công việc cần tỉ mẩn, chuẩn xác, cần tập trung cao độ, chỉ lơ là, sai sót nhỏ sẽ dẫn tới thay đổi kết quả nghiên cứu. Chính bởi đã xác định được tâm thế ngay từ đầu, nên khi có quyết định thành lập nhóm nghiên cứu đề tài, Anh Sơn cùng các đồng đội ngay lập tức sẵn sàng bước vào cuộc chiến dù thời gian rơi vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Thượng tá Hồ Anh Sơn nhớ như in không khí làm việc của những ngày đó: Lần đầu tiên chúng tôi phải nghiên cứu trong điều kiện gấp rút như vậy. Tất cả làm việc với khí thế hừng hực ra trận. Đồng nghiệp của tôi đã làm việc với nguồn năng lượng vô tận, tất cả đều đồng lòng hướng đến mục đích duy nhất là sức khỏe và an toàn tính mạng cho người dân. Nhiều “trật tự” bị đảo lộn nhưng lại “hợp lý” như đánh bóng bàn lúc nửa đêm trong khi chờ kết quả; báo cáo công việc cho lãnh đạo lúc 01-02h sáng trở thành chuyện bình thường… Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua” đã trở thành động lực tạo nên sức mạnh giúp chúng tôi thành công nhanh chóng. Cuối cùng, đề tài đã hoàn thành thắng lợi, về đích trước mốc Nhà nước giao 3 ngày.

Chúng tôi nhớ mãi cảm xúc trước ngày thử nghiệm trên mẫu bệnh phẩm ở Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, tất cả như nín thở chờ đợi. Khi Giám đốc Học viện Quân y hỏi: “Nếu thử nghiệm trên mẫu bệnh phẩm mà hỏng thì sao, các anh cần bao nhiêu thời gian để sửa?”. Tôi đã trả lời: “Báo cáo Thủ trưởng, chúng tôi chưa từng nghĩ đến tình huống thất bại vì chúng tôi không có cả thời gian để nghĩ đến điều đó. Chúng tôi chỉ nghĩ duy nhất một việc là phải hoàn thành nhiệm vụ, giống như người lính trên chiến trường: phải chiến thắng trận này, trúng đạn không có cơ hội làm lại!”. Ngày 4-3-2020, Bộ Y tế cấp phép lưu hành bộ Kit phát hiện SARS-COV-2. Việc tự sản xuất được bộ Kit test trong thời điểm dịch đang bùng phát giúp Việt Nam có trong tay một công cụ đắc lực và hữu hiệu để chủ động chẩn đoán sớm và sàng lọc người nghi nhiễm. Thành công này đóng vai trò quyết định quan trọng đến các khâu sau trong quá trình kiểm soát dịch bệnh. Đồng chí Hồ Anh Sơn khẳng định: Chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, chế tạo bộ Kit trong thời gian một tháng nhưng đó là kết quả hàng chục năm của Học viện Quân y trong chuẩn bị nguồn nhân lực khoa học, giáo dục ý thức trách nhiệm với Đảng, với Nhân Dân cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; là kết quả của sức mạnh tập thể với sự vào cuộc vô điều kiện của các cấp, các ngành từ trên xuống. Như một cỗ xe cần phải chạy, mà thiếu bất kỳ một bộ phận nào, bộ Kit không thể hoàn thành đúng hạn Nhà nước giao được.

Con muốn “mua mẹ”, câu nói của cô con gái nhỏ của TS. Đinh Thị Thu Hằng, thành viên nhóm nghiên cứu khiến người nghe như vỡ òa cảm xúc. Gần hai tháng trời xa con, khi được mẹ hỏi muốn mua gì vào ngày sinh nhật, cô bé bảo chỉ muốn “mua mẹ” để được mẹ ôm cho chúng ta thấu hiểu hơn sự hy sinh, nỗ lực không ngừng nghỉ của những cán bộ trong nhóm nghiên cứu. Với những nhà khoa học mặc áo lính của Viện Nghiên cứu Y dược học Quân sự thì “Khoa học không có biên giới nhưng nhà khoa học nào cũng có Tổ quốc của mình…”

 

Bài 2: Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai?

 

Hình ảnh những anh bộ đội Cụ Hồ vì nhân dân quên mình, vì nhân dân phục vụ trở nên quá đỗi quen thuộc, thân thương mỗi khi đất nước lâm nguy hay gặp thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm. Trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, dù là vùng tiềm ẩn nhiều nguy cơ cao so với các địa phương khác nhưng Thủ đô Hà Nội đã kiểm soát tốt dịch bệnh. Kết quả đó không thể không kể đến vai trò xung kích, đi đầu, chịu hy sinh, gian khổ để bảo vệ Thủ đô thân yêu của các cán bộ, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội (gọi tắt là Bộ Tư lệnh Thủ đô - BTLTĐ). Thiếu tướng Nguyễn Quốc Duyệt, Tư lệnh BTLTĐ khẳng định: Cán bộ, chiến sỹ BTLTĐ luôn khắc ghi và thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “vì nhân dân chiến đấu”. Trong cuộc chiến chống COVID-19, cán bộ, chiến sỹ BTLTĐ thể hiện rõ và phát huy mạnh mẽ lời dạy ấy với tinh thần “nhiệm vụ chống dịch là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình của Lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội”.

Bảo vệ “trái tim” của đất nước

Sinh thời, Bác Hồ luôn nhắc nhở: Cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta nên Hà Nội phải gương mẫu ở vị trí đầu tàu để làm sao “thành một Thủ đô bình yên, tươi đẹp, mạnh khỏe cả về vật chất và tinh thần”. Khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát và diễn biến phức tạp, trở thành đại dịch toàn cầu, ở nước ta, giai đoạn đầu nguồn bệnh chủ yếu từ những người nhập cảnh, đặc biệt là qua đường hàng không, trong đó sân bay quốc tế Nội Bài có số lượng người nhập cảnh lớn nhất. Tối ngày 6-3, xuất hiện bệnh nhân thứ 17 trên chuyến bay từ nước Anh về, khu phố Trúc Bạch - nơi sinh sống của gia đình bệnh nhân số 17 trở thành ổ dịch đầu tiên ở nước ta, sau đó cùng một số ổ dịch khác đã phát sinh quá trình lây nhiễm nhanh, phức tạp như Bệnh viện Bạch Mai, thôn Hạ Lôi (xã Mê Linh, huyện Mê Linh...), Thủ đô Hà Nội bị “đốt nóng”! Là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, chính trị, quốc phòng và giao lưu quốc tế, mật độ dân cư đông, nhiều khách vãng lai, số người nhiễm COVID-19 nhiều, Thủ đô Hà Nội là địa bàn bị ảnh hưởng nặng nề nhất so với các địa phương khác trong cả nước. Với vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng, giữ gìn và bảo vệ Hà Nội trước dịch bệnh nguy hiểm không chỉ là vấn đề bảo vệ sức khỏe và tính mạng của nhân dân mà còn có một ý nghĩa chính trị quan trọng. Ngăn chặn được dịch trên địa bàn Thủ đô sẽ ổn định tâm lý người dân cả nước, là kinh nghiệm quý để cả nước dập dịch thành công, từ đó góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Cả nước hướng về Thủ đô! Chính phủ khẳng định, để thực hiện hiệu quả việc phòng, chống dịch bệnh phải “bao đê cho chặt”, nghĩa là phải tiếp tục quản lý chặt chẽ người nhập cảnh, tổ chức cách ly những người trở về từ vùng dịch, những người tiếp xúc với người nghi nhiễm bệnh. Quân đội sẽ là lực lượng “bao đê” giữ vững những chốt chặn quan trọng để kiểm soát dịch bệnh. BTLTĐ được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và TP. Hà Nội giao nhiệm vụ tiếp nhận, vận chuyển, quản lý, vận hành các khu cách ly tập trung công dân từ những quốc gia và vùng lãnh thổ có dịch, nhập cảnh qua sân bay Nội Bài và tham gia phong tỏa, xử lý các điểm dịch trên địa bàn. Dù đã quen với tác phong “cơ động, sẵn sàng”, “ nơi nào khó khăn nhất có quân đội ở đó”; nhưng nhiệm vụ lần này là “cuộc khủng hoảng về con người” chưa từng có tiền lệ nên cán bộ, chiến sỹ BTLTĐ không tránh khỏi lo lắng. Trước nhiệm vụ quan trọng đặc biệt, Đảng ủy BTLTĐ luôn nhận thức sâu sắc về việc thực hiện lời dạy của Bác Hồ để xứng đáng với niềm tin mà nhân dân cả nước dành cho Thủ đô - “trái tim” của đất nước. Quyết tâm chính trị cao cùng những quyết sách kịp thời, đúng đắn, cán bộ, chiến sỹ BTLTĐ đã nêu cao tinh thần phải làm tốt ngay từ đầu “nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình” nơi tuyến đầu chống dịch.

Những con số biết nói

Ngay khi được giao nhiệm vụ, cán bộ, chiến sỹ BTLTĐ đã sẵn sàng “ra trận”, đi đầu, không ngại gian khổ, hy sinh. Lãnh đạo Bộ Tư lệnh đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trong và ngoài Quân đội xây dựng kế hoạch tiếp nhận, quản lý người cách ly; huy động trên 25 ngàn lượt cán bộ, chiến sỹ và dân quân tự vệ tham gia chốt kiểm soát, tổ tuần tra, truyên truyền lưu động, rà soát, phát hiện, cách ly tập trung các đối tượng F1, giám sát F2, F3. Thường xuyên duy trì 29 tổ phòng dịch cơ động, trên 100 xe ô tô các loại ứng trực làm nhiệm vụ. Tổ chức cách ly tại 6 điểm với gần 8 ngàn lượt công dân (chiếm hơn 50% số lượng công dân cách ly khi thời gian dịch bắt đầu bùng phát). Tổ chức vận chuyển trên 16 ngàn lượt công dân (trong đó có trên 200 người nước ngoài) từ sân bay Nội Bài về khu cách ly tâp trung của BTLTĐ và một số đơn vị quân đội khu vực miền Bắc, có ngày cao điểm gần 1.700 người. BTLTĐ phối hợp với các lực lượng chức năng của Thành phố và Bộ Tư lệnh Hóa học tổ chức phong tỏa, khoanh vùng, phun tiêu độc, khử khuẩn, vệ sinh môi trường các ổ dịch trên địa bàn như: Phường Trúc Bạch (quận Ba Đình), Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Thận Hà Nội, thôn Hạ Lôi (xã Mê Linh, huyện Mê Linh). BTLTĐ còn phối hợp với Tổng Công ty Vận tải Hà Nội đưa công dân hết thời hạn cách ly về 27 tỉnh, thành phố (địa phương xa nhất là tỉnh Điện Biên). Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đưa đón đội ngũ y bác sĩ, bệnh nhân nặng điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai với trên một ngàn lượt người...

Khó có thể nói hết những vất vả, gian khổ mà cán bộ, chiến sỹ BTLTĐ phải đối diện khi những ngày dịch bắt đầu bùng phát. Công tác chuẩn bị các khu cách ly tập trung, đón đồng bào từ nước ngoài về được chuẩn bị khẩn trương nhưng không kém phần chu đáo trong điều kiện có thể. Làm thế nào để công dân Việt Nam trở về quê hương như được trở về với ngôi nhà của mình, người nước ngoài thì có được cảm giác thoải mái, an toàn? Câu trả lời chính là từ nỗ lực không ngừng nghỉ của các cán bộ, chiến sỹ. Cuối tháng 2, BTLTĐ tiếp nhận hàng ngàn công dân Việt Nam từ nước ngoài về, đưa vào khu cách ly. Sân bay những ngày đó đông nghẹt, dồn ứ công dân chờ tiếp nhận làm thủ tục nhập cảnh, cách ly. Áp lực công việc càng ngày càng tăng. Có ngày, BTLTĐ đã phải tiếp nhận cách ly hơn 1.000 người. Những chuyến xe chở công dân từ sân bay về điểm cách ly như con thoi không ngừng nghỉ, bất kể ngày đêm, mưa nắng.

Là điểm cách ly tập trung có số người đông nhất, chỉ trong 2 đợt tiếp nhận, Trường Quân sự BTLTĐ đã tiếp nhận hơn 1.500 công dân Việt Nam và người nước ngoài. Đơn vị đã bố trí hàng trăm cán bộ, chiến sĩ cùng tham gia công tác phục vụ công dân trong suốt 14 ngày mỗi đợt với khối lượng công việc gấp nhiều lần trước đây: Vừa chuẩn bị cơ sở vật chất, vừa phục vụ sinh hoạt hằng ngày, chăm sóc y tế, tiếp nhận hàng hóa, vệ sinh khử khuẩn... Là đơn vị đầu tiên trên địa bàn Hà Nội tiếp nhận cách ly công dân nên những ngày đầu bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ, nhiều khó khăn mà cán bộ, chiến sỹ của Trường khó có thể lường trước: Đối mặt với nguy cơ lây nhiễm cao; đối tượng công dân tập trung cách ly đa dạng về quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi, sức khỏe, giới tính, chưa quen với môi trường sống tập trung, bị hạn chế về điều kiện sinh hoạt nên dễ nảy sinh suy nghĩ tiêu cực. Tâm lý người bị cách ly tập trung căng thẳng, một số bất đồng ngôn ngữ; múi giờ ở các nước cũng khác nhau dẫn đến thói quen sinh hoạt (ăn, uống, ngủ, nghỉ) của công dân cũng khác nhau... Đặc biệt, trong đợt 2, Trường đã tiếp nhận cách ly gần 800 công dân, phần lớn từ các nước châu Âu trở về, nguy cơ lây nhiễm cao, về Việt Nam chủ yếu vào ban đêm. Cán bộ, chiến sỹ đứng trước áp lực rất lớn về cả thể chất và tinh thần, ban ngày lo sắp xếp hậu cần, phòng nghỉ, giường, chiếu, đồ dụng thiết yếu, đêm đến lại thức xuyên đêm để vận chuyển, tiếp nhận công dân. Học và làm theo Bác Hồ ở tinh thần phục vụ nhân dân, 100% cán bộ, nhân viên, học viên, chiến sĩ đoàn kết hỗ trợ nhau từ lúc “vươn thở đến tiếng thơ” (từ sáng sớm tập thể dục đến đêm khuya nghe chuyên mục “Tiếng thơ” trên đài phát thanh) nhưng họ luôn quyết tâm, không ngại khó, ngại khổ, không hoang mang mà tận tụy, tích cực, chủ động làm tốt nhiệm vụ. Khó khăn, vất vả là thế, nhưng ý chí, lòng quyết tâm của các cán bộ, chiến sỹ chưa bao giờ vơi, niềm tin và sự ủng hộ của người dân vào chủ trương của Đảng, Chính phủ về phòng, chống dịch cũng được tăng lên bởi “nhìn thấy bộ đội thực hiện phòng, chống dịch là thấy yên tâm rồi”.

Cách ly nhưng không cách lòng

“Những tưởng 14 ngày cách ly sẽ là những ngày đáng sợ, nhưng đó lại là những ngày khó quên bởi chúng tôi được sống trong tình cảm của cán bộ, chiến sỹ BTLTĐ”, đó là chia sẻ của nhiều công dân khi được hỏi. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về phong cách bình dị, gần gũi, thân ái với đồng bào, đồng chí. Học tập Bác, trong những ngày cả nước gồng mình chống chọi với đại dịch toàn cầu, cán bộ, chiến sỹ BTLTĐ đã thể hiện tinh thần dân tộc, vì nhân dân phục vụ bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, bình dị mà cao quý. Từ con tim đến khối óc, quân với dân đoàn kết, gắn bó, “mỗi người dân cách ly đều là người thân ruột thịt”, “mỗi điểm cách ly là một gia đình hòa thuận”. Người dân làm sao có thể quên được hình ảnh cán bộ, chiến sỹ BTLTĐ bất kể ngày hay đêm luôn giữ thái độ gần gũi, chân thành, tận tình, chu đáo, chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ, thăm hỏi, động viên từng người; quan tâm, bảo đảm những nhu cầu thiết yếu dù là nhỏ nhất trong điều kiện có thể, bất kể đó là công dân Việt Nam hay người nước ngoài. Đó là những cán bộ, chiến sỹ không ngại hy sinh, chấp nhận mình có thể bị lây nhiễm để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Họ là những đồng chí lái xe cả tháng trời trong những bộ đồ bảo hộ cồng kềnh giữa thời tiết nắng nóng, những bữa cơm vội vã tại sân bay, luôn trong tâm thế sẵn sàng có lệnh là lên đường. Đó là chiến sỹ với chiếc máy khử trùng 20kg nặng trịch luôn đeo sau lưng, không kể giờ giấc, hễ có người hay xe mới vào đơn vị là lập tức khử khuẩn. Đó là những chiến sỹ “anh nuôi” mỗi sáng tinh mơ đã chuẩn bị hàng nghìn suất ăn đủ dinh dưỡng cho đồng bào, đồng chí. Đó là những chiến sỹ chưa từng làm bố nhưng sẵn sàng đảm nhận việc chăm sóc các bé tại khu cách ly... Những nghĩa cử cao đẹp đó không phải là hành động bột phát, nhất thời, mà là phẩm chất thường trực trong mỗi quân nhân cách mạng được thể hiện rõ nhất, sinh động nhất trong những hoàn cảnh khó khăn, đã tạo ra “lá chắn thép vững chắc” trên mặt trận không tiếng súng nhưng vô cùng nguy hiểm, ác liệt.

Chia sẻ với chúng tôi, Thượng tá Nguyễn Đình Bản, Trợ lý Phòng Chính trị, Trường Quân sự BTLTĐ Hà Nội, người đã tình nguyện gác lại công việc gia đình, chấp nhận gian khổ, hiểm nguy, tình nguyện tham gia phục vụ công dân cách ly suốt cả 2 đợt cho biết: Tôi luôn xác định đã là người quân nhân thì gian khổ phải đi đầu, vì nhân dân tôi luôn sẵn sàng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đợt 1 với cương vị phó trưởng tiểu ban tiếp nhận, quản lý phục vụ công dân, tôi tình nguyện tham gia phục vụ đợt 2 cùng nhiều cán bộ, chiến sỹ khác vào ở khu cách ly. Đặc biệt ở đợt 2, đối tượng cách ly phức tạp hơn và nguy cơ lây nhiễm cao hơn vì chủ yếu là công dân từ châu Âu về, lại về chủ yếu vào ban đêm, đòi hỏi cường độ làm việc càng căng thẳng, áp lực tâm lý. Tôi nghĩ nếu mình không làm sẽ có những chiến sỹ khác sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Nhưng mình đã có kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ ở đợt 1, nếu đồng đội khác làm sẽ mất thời gian làm quen, học hỏi phương pháp chỉ huy.

Điều để lại nhiều cảm xúc với Thượng tá Nguyễn Đình Bản là thái độ, trách nhiệm của đồng đội trước nhiệm vụ mới. Trước những hiểm nguy của đất nước, của Thủ đô, các cán bộ, chiến sỹ đã phát huy phẩm chất bộ đội cụ Hồ, thực hiện tốt nhiệm vụ một cách vô điều kiện, không nề hà bất cứ việc gì, thời gian nào, nguy hiểm đến đâu, miễn là phục vụ nhân dân được tốt nhất. Hiệu suất làm việc tăng lên mấy trăm phần trăm, liên tục không nghỉ nhưng không một lời kêu ca, phàn nàn, tinh thần phục vụ nhân dân luôn được đẩy đến mức cao nhất. Hai đợt tiếp nhận công dân cách ly, phục vụ cho hàng ngàn con người trong điều kiện đặc thù là điều không hề dễ dàng. Có ngày cao điểm, anh em cán bộ, chiến sỹ phải vận chuyển khoảng 2 tấn hàng tiếp tế cho công dân trong khu cách ly. Vất vả là thế nhưng cũng có lúc có công dân tỏ thái độ, buông lời lẽ không hay; một số công dân lúc đầu nhận thức chưa đúng, đòi hỏi phòng ở riêng; có công dân người nhà gửi nhiều đồ ăn vào nên bỏ thừa cơm; có công dân do điều kiện bản thân mà xin đề nghị ra trước thời gian cách ly… Bất luận trong tình huống nào, anh em cán bộ, chiến sỹ đều bình tĩnh, kiên nhẫn, gặp gỡ, trao đổi, động viên để công dân vui vẻ thực hiện cách ly theo đúng quy định. Không chỉ đồng chí Bản, rất nhiều cán bộ, chiến sỹ của BTLTĐ đều chia sẻ: Tuy có vất vả, gian khổ nhưng ai cũng đều cảm thấy vui vì đã hoàn thành nhiệm vụ. Hạnh phúc nhất chính là tình cảm của người dân dành cho cán bộ, chiến sỹ nơi đây. Tình cảm đó chính là nguồn động viên lớn nhất, mọi mệt mỏi tan biến, động lực vì nhân dân phục vụ tăng thêm. Những tâm thư, những dòng lưu bút, nhật ký, những câu chuyện được ghi bằng thơ, bằng hình ảnh và những dòng cảm xúc tốt đẹp nhất của bà con trong các khu cách ly hoặc trở về nhà khi hết thời hạn là minh chứng chân thực và sinh động nhất về những đóng góp của cán bộ, chiến sỹ BTLTĐ trong phòng, chống dịch COVID-19.

Khi được hỏi, tham gia nhiệm vụ trong khu cách ly, trước tình hình số lượng công dân trong các khu cách ly tập trung dương tính với COVID-19 tăng, anh có nghĩ đến khả năng mình bị lây nhiễm mà e ngại? Anh Bản cười hiền: Không chỉ mình tôi, mỗi cán bộ, chiến sỹ nơi tuyến đầu chống dịch khi đã nhận nhiệm vụ là xác định tư tưởng, bản lĩnh, ý chí sẵn sàng chiến đấu, nỗ lực để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, đơn vị và nhân dân tin tưởng giao phó. Bất luận trong hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm nào, Quân đội cũng là lực lượng đi dầu. Vì vậy, không có lý do gì để chúng tôi chùn bước.

Chia tay những cán bộ, chiến sỹ kiên cường, dũng cảm của BTLTĐ, chúng tôi thực sự xúc động. Trên mặt trận không tiếng súng, các anh chị một lần nữa đã khắc họa đậm nét hình ảnh người chiến sĩ Bộ đội Cụ Hồ không quản ngại khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, góp phần làm tỏa sáng phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới. Đó cũng là cách người lính thực hiện lời Bác Hồ dạy: “Bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi”. Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ không chỉ dừng lại ở chỗ hiện hữu, phát huy cao độ, mà nó còn nảy nở, lan tỏa, khơi dậy tinh thần dân tộc, những nghĩa cử cao đẹp trong xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Một tấm gương sống còn hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền. Mỗi cán bộ, chiến sỹ BTLTĐ luôn chọn việc gian khổ trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống COVID-19 đã thực sự là những tấm gương lan tỏa, có ý nghĩa nhất...

 

Bài 3: Gặp gỡ những người luôn sẵn sàng làm F1

 

Chúng tôi vỡ ra rằng, có những điều tưởng như vô lý lại vô cùng hợp lý khi gặp gỡ các điều dưỡng, bác sỹ Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương (sau đây viết tắt là BVBNĐ). Khi đại dịch COVID-19 hoành hành, mọi người hạn chế đến nơi đông người, học sinh - sinh viên nghỉ học, cuộc sống thường ngày như chậm lại thì ở một nơi khác, cuộc sống lại “động” hơn bao giờ hết. Ở đó, những điều dưỡng, bác sĩ hằng ngày khoác chiếc áo blouse trắng luôn túc trực, bất kì tình huống nào cũng sẵn sàng tiếp nhận cách ly và chăm sóc người nghi nhiễm. Đối mặt với khả năng lây nhiễm cao nhất khi làm việc ở tuyến đầu ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh COVID-19, nhưng hơn lúc nào hết cán bộ, điều dưỡng, bác sỹ BVBNĐ càng thấm thía và tận tụy thực hiện lời dạy của Bác Hồ: Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh và giữ sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang.

Kích hoạt

Ngay khi có những thông tin đầu tiên về dịch bệnh ở Vũ Hán (Trung Quốc), BVBNĐ bắt đầu thành lập những nhóm theo dõi thông tin về diễn biến dịch bệnh. Trước Tết Nguyên đán Canh Tý 2020 khoảng 1 tuần, nhận định dịch bệnh có thể vào Việt Nam, Ban Lãnh đạo của BVBNĐ đưa ra quy định: Toàn thể nhân viên y tế khi được triệu tập phải có mặt ngay trong vòng 2 tiếng, không đi xa khỏi bệnh viện quá bán kính 50km.

Đúng như dự đoán, ngày 23-1-2020 (tức 29 Tết), Việt Nam ghi nhận ca mắc COVID-19 đầu tiên. Sau đó, BVBNĐ bắt đầu tiếp nhận những ca nghi nhiễm, đánh dấu một cái Tết xa nhà đầy áp lực căng thẳng của cán bộ, điều dưỡng, bác sỹ BVBNĐ. Cả hệ thống bệnh viện được kích hoạt, chuẩn bị sẵn sàng để đối mặt với dịch bệnh có thể bùng phát bất kỳ lúc nào. Bệnh viện đã thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh, các đội cấp cứu ngoại viện; xây dựng và triển khai các kịch bản ứng phó. Cán bộ, nhân viên hối hả chuẩn bị cơ sở vật chất, con người, thực hành đào tạo, hỗ trợ tuyến dưới, chuẩn bị sẵn chỗ ăn, ở cho người cách ly, nhân viên y tế. Bệnh viện đã chuyển toàn bộ bệnh nhân thông thường sang cơ sở 1 ở đường Giải Phóng, dành toàn bộ cơ sở 2 ở Kim Chung (Đông Anh) cho việc thu dung, cách ly, điều trị bệnh nhân nhiễm COVID-19. Tại cơ sở 2, bệnh viện tổ chức 3 vòng: vòng lõi, vòng đệm và vòng ngoài để điều trị bệnh nhân dương tính nặng, bệnh nhân dương tính có tổn thương phổi, bệnh nhân dương tính, bệnh nhân nghi nhiễm nhằm hạn chế tối đa việc lây nhiễm chéo. Nhân viên bệnh viện thường xuyên được xét nghiệm sàng lọc, đặc biệt là nhân viên tại Khoa Cấp cứu, Khoa Hồi sức tích cực do thường xuyên phải làm các thủ thuật, điều trị, chăm sóc đặc biệt cho bệnh nhân nhiễm COVID-19 nặng để kịp thời phát hiện, xử lý những trường hợp có khả năng lây nhiễm, bảo đảm an toàn cho cán bộ, nhân viên y tế.

Khi ca mắc COVID-19 đầu tiên nhập viện, toàn bộ lãnh đạo, nhân viên và người lao động tự nguyện ở lại bệnh viện sẵn sàng phục vụ người bệnh, người cách ly, bảo đảm hạn chế lây nhiễm từ môi trường bệnh viện ra cộng đồng và ngược lại. Không có Tết! Việc thực hiện điểm danh hằng đêm bắt đầu. Mỗi ngày, tình trạng sức khỏe của nhân viên y tế trong mỗi khoa đều được theo dõi sát sao, những nhân viên y tế tiếp xúc với bệnh nhân đều được ghi lại để theo dõi. Những trường hợp nghi nhiễm từ các bệnh viện khác liên tục được chuyển về, mỗi ngày bệnh viện phải tiếp nhận từ 30 đến 40 ca bệnh. Tại khoa Cấp cứu các điều dưỡng, bác sĩ căng mình đón bệnh nhân nghi nhiễm COVID-19 cần cách ly và điều trị. Ở Khoa Nhiễm khuẩn tổng hợp (cơ sở 2) có gần 40 bệnh nhân mắc COVID-19, số lượng bệnh nhân nhiều nên đội ngũ điều dưỡng, bác sĩ trong khoa phải chia làm 2 tốp, mỗi tốp làm 14 ngày rồi lại nghỉ để tự cách ly, hết thời gian cách ly lại tiếp tục “chiến đấu”.

Việc khó… có nản lòng?

Là một bệnh viện chủ công trên tuyến đầu điều trị bệnh nhân nhiễm COVID-19, giai đoạn đầu, BVBNĐ đã tiếp nhận và điều trị hơn 50% tổng số bệnh nhân dương tính với SARS-CoV-2 của cả nước, trong đó có bệnh nhân người nước ngoài, bệnh nhân nặng, nguy kịch. Ngoài việc điều trị cho bệnh nhân nhiễm COVID-19, bệnh viện đã tiếp nhận cách ly và theo dõi y tế hàng nghìn trường hợp nghi nhiễm, trong đó có những người từ vùng dịch Vũ Hán; khám sàng lọc cho hơn 2.000 lượt người nghi nhiễm. COVID-19 là chủng vi rút mới, có cơ chế bệnh sinh khác so với những loại vi rút trước đây. Nó thích ứng với từng người bệnh nên diễn biến bệnh phức tạp và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. PGS, TS. Phạm Ngọc Thạch, Giám đốc BVBNĐ khẳng định: Việc phòng, chống dịch bệnh, điều trị cho bệnh nhân rất khó khăn, phức tạp, vừa điều trị, vừa tìm phác đồ phù hợp, đòi hỏi phải có sự quyết tâm, đồng lòng cao của toàn thể nhân viên y tế. Các điều dưỡng, bác sỹ hằng ngày tiếp xúc với bệnh nhân, người nghi nhiễm nên nguy cơ lây nhiễm cao. Các phương tiện bảo hộ hiện đại đến đâu cũng không tránh khỏi những rủi ro nghề nghiệp. Bác sỹ Nguyễn Trung Cấp, Trưởng khoa Cấp cứu khẳng định: Cán bộ, nhân viên, điều dưỡng, bác sỹ của bệnh viện đã từng tham gia các đợt phòng, chống nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trước đó như SARS, MER-CoV… nhưng vẫn không khỏi lo lắng và băn khoăn khi đối mặt với dịch bệnh mới. Không khí khẩn trương, căng thẳng hiện rõ trên từng gương mặt, bước chân. Dịch bệnh mới xuất hiện, lại là bệnh truyền nhiễm nên không ai có thể lường hết mức độ nguy hiểm của nó. Bước vào phòng bệnh nhân là có thể đối mặt với nguy cơ bị lây nhiễm bất kỳ lúc nào nhưng ai cũng sẵn sàng tư thế đứng vững ở tuyến đầu chống dịch, bởi đây là nghề nghiệp, công việc chúng tôi đã lựa chọn. Vượt lên tất cả là an toàn cho bệnh nhân.

Nói về quá trình điều trị cho các bệnh nhân COVID-19, bác sĩ Đỗ Thị Phương Mai chia sẻ: Thực sự rất khó khăn! Chúng tôi phải đọc rất nhiều tài liệu của nước ngoài, tham khảo những phác đồ điều trị họ đã sử dụng, cùng với hội đồng chuyên môn lựa chọn những phác đồ phù hợp cho bệnh nhân. Trong quá trình điều trị, luôn có những diễn biến bất thường, như xét nghiệm Real Time PCR cho kết quả âm tính sau đó lại chuyển sang dương tính, hay bệnh nhân gặp các tác dụng phụ của thuốc. Những lúc như vậy, các bác sĩ luôn trăn trở tìm loại thuốc và liều lượng thích hợp nhất. Nếu giai đoạn 1 chủ yếu là người trẻ thì giai đoạn 2 có nhiều bệnh nhân tuổi cao, có bệnh nền (huyết áp cao, đái tháo đường, suy thận, suy giảm miễn dịch…) nên diễn biến khó lường.

Tấm lòng nhân ái “yêu mọi kiếp người” của Bác đã thấm sâu vào mỗi cán bộ, nhân viên bệnh viện. Khắc ghi và nhớ lời Bác Hồ dạy, “Lương y phải như từ mẫu”, các điều dưỡng, bác sỹ BVBNĐ đã dành tâm trí, sức lực và thời gian để cứu chữa, chăm sóc tốt nhất cho bệnh nhân từ bữa ăn, giấc ngủ đến thăm khám, điều trị. Cán bộ, bác sĩ, điều dưỡng thay phiên nhau xuống tận phòng cách ly hoặc trò chuyện với bệnh nhân qua bộ đàm để động viên, giúp họ không thấy cô đơn, bớt lo lắng về tình trạng bệnh. “Họ không chỉ là bác sỹ, họ còn là chiến sỹ, là những người anh hùng trong cuộc chiến đẩy lùi dịch bệnh” - Lời tâm sự thấm thía của người dân, thân nhân người bệnh là minh chứng rõ nhất về sự nỗ lực, dấn thân và hy sinh của các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch.

Khi “cuộc chiến” chống COVID-19 bước vào giai đoạn mới với nhiều cam go và thử thách, hai nhân viên y tế đầu tiên bị lây nhiễm. Áp lực đối với cán bộ, điều dưỡng, bác sỹ bệnh viện càng lớn hơn. Lằn ranh giữa an toàn của bản thân, gia đình và sự hiểm nguy mong manh hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, không vì thế cán bộ, công nhân viên bệnh viện nhụt chí. Ngược lại, mỗi người lại hun đúc ý chí cao hơn, quyết tâm hơn, vừa rà soát lại toàn bộ quy trình, kỹ thuật, trang thiết bị phòng hộ, vừa tìm tòi, sáng tạo những kỹ thuật, phương pháp mới để khắc phục những hạn chế của trang thiết bị. BVBNĐ đã có sáng kiến dùng thêm mũ chụp có ống ô xy lọc khí để bảo vệ khi thực hiện các kỹ thuật chăm sóc đặc biệt cho bệnh nhân. Bác sỹ Nguyễn Trung Cấp chia sẻ: Áp lực công việc lớn là vậy nhưng không ai nản chí, ai cũng đi làm đều đặn, không bỏ ca, không nhờ ai làm hộ.

Khoa Hồi sức tích cực điều trị 5 bệnh nhân nặng. Việc điều trị, chăm sóc những bệnh nhân này vô cùng khó khăn. Làm thế nào để cứu chữa cho các bệnh nhân là điều mà các bác sỹ luôn trăn trở hằng ngày… Còn nhớ, trong số 5 bệnh nhân nguy kịch, bệnh nhân số 19 (64 tuổi) với tiền sử rối loạn tiền đình, rối loạn đông máu, tắc nghẽn vi mạch, là bệnh nhân đầu tiên phải đặt ECMO (kỹ thuật tim, phổi nhân tạo - kỹ thuật hồi sức đặc biệt). Có đêm, bệnh nhân 3 lần ngừng tuần hoàn, ngừng tim phải cấp cứu, tưởng như không còn hy vọng cứu chữa hoặc cứu được thì di chứng rất nặng do tổn thương não. Có lần bệnh nhân ngừng tuần hoàn trong 40 phút, việc cấp cứu thực sự khủng khiếp. Ê kíp ép tim lúc đó có 8 người gồm 4 bác sĩ và 4 điều dưỡng, thay nhau thực hiện. Thông thường 1 phút sẽ phải ép tim 120 lần. Với người khỏe, nếu thực hiện khoảng 1 phút tay đã rã rời. Nếu tay ép lỏng hoặc ép không đúng kỹ thuật sẽ không bảo đảm được tuần hoàn cho bệnh nhân. Bác sỹ Đồng Phú Khiêm xúc động nhớ lại: Thực hiện ép tim được khoảng 30 phút, bệnh nhân vẫn không có dấu hiệu khả quan, mọi người đã nghĩ sẽ phải buông tay. Tranh thủ từng giây, từng phút để cấp cứu bệnh nhân cùng với chuyên môn, nghiệp vụ cao của ê kíp, cuối cùng bệnh nhân đã được cứu sống, dần hồi phục, khỏi bệnh. Thêm một lần nữa, các bác sĩ, điều dưỡng lại thở phào sau những phút nỗ lực đến nghẹt thở. Có thể nói, mỗi ca bệnh được cứu sống, phục hồi là một kỳ tích của y học, niềm tự hào của nhân viên y tế nói riêng và của Ngành Y tế Việt Nam nói chung.

Ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương

Bác sĩ Trần Thị Hải Ninh, Trưởng khoa Nội Tổng hợp cho biết: Trong đợt dịch lần 1, gần một tháng rưỡi tôi hoàn toàn ở bệnh viện, có đồng nghiệp còn ở đây lâu hơn. Họ luôn là các F1 nên phải “cấm trại” để bảo đảm an toàn cho người thân, hàng xóm... Những “người lính áo trắng” cứ vậy nhanh chóng thích ứng với nhịp sống ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương.

Bước vào đợt dịch lần 2, số lượng bệnh nhân tăng nhanh và bệnh cảnh lâm sàng nặng hơn, các nhân viên y tế phải làm việc với cường độ cao gấp nhiều lần. Bác sỹ Đồng Phú Khiêm, người đã cùng gần 20 đồng nghiệp điều trị cho 5 bệnh nhân nặng nhất tâm sự: Ít khi chúng tôi được ngủ một giấc dài từ 3 đến 4 giờ, có chút thời gian nghỉ lại tranh thủ tìm tài liệu, hoặc quanh quẩn ở khu bệnh nhân. Đến mức có người bị ám ảnh bởi tiếng máy thở, tiếng báo động, nghe tiếng máy là bật dậy. Đôi lúc có cảm giác không phân biệt được thời gian theo guồng quay công việc. Nhiều hôm nửa đêm, kíp trực vừa chợp mắt, nhận cuộc gọi khẩn cấp lại bật dậy họp bàn xử lý tình huống.

Có lúc các điều dưỡng, bác sĩ phải đối mặt với tình huống thiếu thốn vật dụng bảo hộ, khẩu trang y tế hay vô vàn khó khăn khác ngoài áp lực về chuyên môn.Trong quá trình tiếp nhận và áp dụng biện pháp cách ly đối với các bệnh nhân nghi nhiễm, một số trường hợp không hợp tác, thậm chí có người chống đối, lăng mạ nhân viên y tế. Công việc bận rộn và căng thẳng, mọi thứ như những đợt sóng lớp sau xô lên lớp trước, tiếp nối nhau bất tận. Những công việc bận rộn đó buộc phải thực hiện trong bộ đồ bảo hộ kín mít hàng giờ, trong hoàn cảnh bình thường khó có thể chịu đựng được. Những bữa cơm ăn vội, những giấc ngủ gục bên bàn làm việc không còn hiếm gặp trong những ngày chống dịch. Điều dưỡng Trần Thị Thanh chia sẻ: Quá trình chăm sóc bệnh nhân có một số ca bệnh nặng, nguy kịch nên phải theo dõi sát sao, có ca đứng liên tục mấy tiếng đồng hồ để làm kỹ thuật, hỗ trợ kỹ thuật cao cho bác sỹ. Có lúc tôi gần như bị ảo tưởng, chỉ một cơn ho, hắt hơi… tôi cũng nghi ngờ chính mình đã nhiễm bệnh, lại đứng bật dậy đi cặp nhiệt độ. Cảm giác “ngây ngấy sốt” ngày nào cũng “đến”. Căng thẳng vô cùng. Tuy vất vả nhưng mỗi khi một ca nhiễm khỏi bệnh thì niềm vui khôn xiết. Ánh mắt hạnh phúc và biết ơn của mỗi bệnh nhân tỉnh dậy sau những ngày hôn mê chính là động lực để các y bác sỹ, điều dưỡng BVBNĐ thêm tin yêu và gắn bó với nghề.

Gắn bó bao nhiêu năm trong nghề nhưng có lẽ cuộc chiến chống COVID-19 để lại nhiều cảm xúc và kỷ niệm nhất đối với mỗi nhân viên y tế BVBNĐ. Đó là cảm xúc vỡ òa khi cứu sống bệnh nhân diễn biến nặng được cả nước quan tâm theo dõi; là phút giây những người làm bố, làm mẹ dồn nén bao cảm xúc nhớ thương nhưng chỉ dám đứng nhìn con ở cổng bệnh viện trong chốc lát; là những trăn trở của Lãnh đạo Bệnh viện khi có trường hợp cả hai vợ chồng đều là điều dưỡng, cùng làm việc tại bệnh viện nhưng hai con nhỏ chưa thể gửi về quê; đó là cảm giác xót xa khi có những đồng nghiệp bị chủ nhà trọ không cho thuê nữa vì sợ lây nhiễm bệnh; là tinh thần đoàn kết sẻ chia công việc, không ai phàn nàn, sẵn sàng xung phong nhận nhiệm vụ dù biết nguy hiểm cận kề…

Chỗ có dịch bệnh là nơi mọi người chạy đi, nhân viên y tế chạy đến. Hai bác sĩ của bệnh viện đã bị lây nhiễm khi thực hiện việc đặt nội khí quản cho bệnh nhân nặng đầu tiên mới thấy áp lực và căng thẳng của các nhân viên y tế nơi tuyến đầu chống dịch. Nhưng cán bộ và nhân viên y tế BVBNĐ luôn xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của “người chiến sỹ áo trắng”. Từ chuyến bay đưa 30 công dân Việt Nam từ tâm dịch Vũ Hán về nước khi dịch bệnh mới bùng phát, đến chuyến bay đặc biệt đón 219 công dân từ Ghi-nê Xích Đạo, hay sẵn sàng vào trợ giúp Đà Nẵng chống dịch… cán bộ, nhân viên y tế BVBNĐ luôn ở tư thế sẵn sàng, không ngại làm F1 để bảo vệ sức khỏe và tính mạng của nhân dân. Bởi với họ, học và làm theo Bác Hồ một cách có hiệu quả nhất chính là hoàn thành nhiệm vụ của mình, xứng đáng với lương tâm, trách nhiệm khi khoác lên mình chiếc áo blouse trắng.

Thay lời kết

Những chiến sỹ nơi tuyến đầu chống “giặc COVID-19” đã dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, nỗ lực chiến đấu không sợ hy sinh để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Họ là những nhà khoa học, những người lính “bộ đội Cụ Hồ”, là những bác sỹ, điều dưỡng, nhân viên y tế… luôn không quên nghĩa vụ và trách nhiệm với Tổ quốc. Họ chỉ là số ít trong hàng triệu người con đất Việt vẫn đang từng ngày, từng giờ dấn thân vào hiểm nguy trong cuộc chiến COVID-19 mà chúng tôi chưa có điều kiện kể hết. Nhưng họ đại diện cho bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc Việt Nam anh hùng. Không ai nhận thành tích cho riêng mình, mỗi cá nhân được vinh danh đều khẳng định kết quả có được là nỗ lực của cả tập thể.

Ở một đất nước còn nhiều khó khăn nhưng Chính phủ chấp nhận thiệt hại về kinh tế đổi lấy sức khỏe và an toàn tính mạng của người dân. Ở đó có những cá nhân và tập thể luôn cố gắng học và làm theo Bác từ những việc nhỏ, bình dị mà cao quý, nỗ lực vun đắp những giá trị tốt đẹp, tạo sự lan tỏa, khơi dậy tinh thần bất khuất của dân tộc. Họ là những người luôn sẵn sàng “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm”, tiếp tục xây thêm những viên gạch trên nền móng của một dân tộc nhân nghĩa, thủy chung. Điều đó đã lý giải vì sao người dân Việt Nam tin tưởng, đồng lòng, ủng hộ và tự giác tham gia phòng, chống dịch. Diễn biến dịch bệnh ngày càng phức tạp, cuộc chiến trên “mặt trận không tiếng súng” này còn có thể lâu dài, đầy chông gai, gian khó, các chiến sỹ tuyến đầu chống dịch vẫn còn phải đối mặt với những hiểm nguy, gian khổ, hy sinh thầm lặng để đẩy lùi dịch bệnh. Với sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Trung ương Đảng, Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn dân, đặc biệt là sự hy sinh của các chiến sỹ nơi tuyến đầu - những người luôn biết đặt lợi ích của Nhân dân, Tổ quốc lên trên hết, trước hết, chúng ta vững tin Việt Nam sẽ chiến thắng trong trận này!

 

Tác phẩm đoạt giải khác

Mới nhất

Xem nhiều nhất